Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

Muối ăn cũng tiềm ẩn bệnh tật

Muối cũng là đầu mối của nhiều vấn đề sức khỏe. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách dùng muối để phát huy tác dụng và hạn chế tác hại của nó đối với sức khỏe con người.

Natri và Clo, thành phần chủ yếu của muối, là hai nguyên tố có vai trò hết sức quan trọng trong cân bằng thể dịch trong cơ thể, sự tồn tại và hoạt động bình thường của tất cả các tế bào, hoạt động chức năng của tất cả các cơ quan và bộ phận trong cơ thể. Nồng độ muối cũng như nhiều nguyên tố hóa học khác được giữ ở mức tương đối cân bằng nhờ vào hoạt động của hệ thần kinh, nội tiết, tiết niệu và tiêu hóa.

Ngoài ra, muối iốt còn làm giảm nguy cơ mắc bệnh bướu cổ, thai chết lưu, đẻ non, tử vong sơ sinh, giúp trẻ phát triển trí tuệ đầy đủ.
  • Thuốc xeloda là loại thuốc gì?

Hậu quả của thiếu muối
Nếu bị thiếu muối ít, cơ thể sẽ tự thích ứng bằng cách làm giảm đào thải natri qua nước tiểu và mồ hôi. Cơ thể cũng sẽ có cảm giác thèm ăn mặn hơn nên sẽ sớm có được lượng muối cần thiết trong cơ thể.
Lượng muối bình quân cần thiết cho cơ thể dao động từ
4 - 10g
muối NaCl/ ngày

Thiếu muối nặng thì có thể dẫn tới chuột rút, hoa mắt, chóng mặt, hôn mê và tử vong. Thiếu muối nặng thường gặp ở những người ra quá nhiều mồ hôi hoặc bị tiêu chảy nặng mà không được bù nước và muối hợp lý.

Công nhân luyện gang thép, làm đường; nông dân trong thời kỳ đồng áng, vận động viên, bộ đội trong thời gian luyện tập là những người có nhiều nguy cơ thiếu muối nặng... cần bổ sung cả đường và muối bằng cách nước uống. Trẻ nhỏ bị tiêu chảy cần được uống oresol hoặc bù nước và điện giải bằng đường tĩnh mạch theo chỉ định của thầy thuốc.

Nhu cầu và thói quen ăn mặn
Trung bình mỗi ngày cơ thể chúng ta cần từ 2 - 3 lít nước để bổ sung lượng nước bị hụt thông qua các hoạt động. Nếu tính tổng thể, cơ thể người trung bình sẽ chứa từ 7 - 8 lít (nước và máu). Khối lượng này đảm bảo cho hệ tuần hoàn, bài tiết hoạt động bình thường đúng chức năng của chúng. Lượng muối bình quân cần thiết cho cơ thể giao động từ 4 - 10g muối NaCl/ ngày, trong đó, thành phần muối có sẵn trong các thức ăn thiên nhiên chiếm khoảng 3%, số còn lại được bổ sung trong quá trình chế biến thực phẩm.
Thói quen ăn mặn hoặc chế biến mặn các loại thức ăn sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, cơ thể sẽ có cảm giác khát, dẫn đến uống nước nhiều (quá lượng nước cho phép), tích giữ nước trong cơ thể gây tăng huyết áp. Cơ thể cũng tìm cách tăng đào thải natri qua nước tiểu, dẫn tới mất kali, canxi và nhiều khoáng chất khác và gây “mệt mỏi” cho hệ bài tiết, làm tăng cường độ làm việc của hệ thống tim mạch, thận và tiết niệu nên sớm dẫn tới suy giảm chức năng hoạt động của các hệ cơ quan này. Bên cạnh đó là các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, suy tim, suy thận, loãng xương...
Ăn nhiều muối còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng và ung thư đường tiêu hóa. Đối với những người đã mắc bệnh tăng huyết áp, suy tim, suy thận và suy gan, ăn nhiều muối sẽ làm bệnh tiến triển nhanh hơn.
  • Phác đồ điều trị viêm gan C với loại thuốc sofosbuvir nhanh chóng và hiệu quả

Ăn nhạt cũng phải đúng cách
Theo khuyến cáo của Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), mỗi ngày chúng ta chỉ nên sử dụng 3 - 6g muối. Trong đó, phải tính muối trong nước chấm, nước mắm nêm trong đồ ăn và thực phẩm đã chứa muối sẵn. Chứ không phải sử dụng đồ luộc nhưng lại chấm thật nhiều nước mắm, nước tương... Người tăng huyết áp nên ăn khoảng 2g muối/ngày tùy theo huyết áp đo được và tình trạng tim mạch. Nếu gia đình bạn đã có cha, mẹ, ông, bà bị tăng huyết áp thì tốt nhất cả nhà nên tập thói quen ăn nhạt.

Gọi là “tập”, bởi qua kinh nghiệm điều trị của các bác sĩ thì càng tăng huyết áp càng thích ăn mặn. Vì thế giảm dần lượng muối trong mỗi bữa ăn chẳng khác gì “cai nghiện” và luôn phải nhớ mới thiết lập thói quen được.
Nên ăn muối gì?
Muối biển nguyên chất là lựa chọn thông minh bởi còn chứa một hàm lượng magiê, kali, lưu huỳnh, canxi và iốt.

Một chế độ ăn vừa phải muối mỗi ngày là tối ưu để phòng tăng huyết áp do ăn mặn. Cũng nên tùy công việc cụ thể: làm việc đổ mồ hôi nhiều vẫn nên bổ sung muối. Còn nếu đã có bệnh tim mạch, suy thận hay suy gan thì nên nghe theo lời khuyên của bác sĩ.
Nên sử dụng nước mắm pha loãng (cùng tỏi, ót...)

Mẹo giảm thói quen ăn mặn
- Nếu đã lỡ có thói quen ăn mặn thì việc lập tức từ bỏ chúng quả là một vấn đề nan giải, vị giác của bạn sẽ không chấp nhận việc ăn nhạt trừ khi bác sĩ bắt buộc bạn phải tuân thủ theo một chế độ ăn nhất định.
- Hãy cố gắng tập thói quen nêm nếm vừa ăn hoặc hơi nhạt. Vì nếu bạn phát hiện mình đã “quá tay” trong nêm nếm, thật sự lượng muối trong món ăn đã rất nhiều. Kiên quyết với việc tra thêm mắm, muối cho các món ăn.
- Từng bước giảm dần thói quen ăn mặn trong bữa cơm cho mình và các thành viên trong gia đình.
- Cố gắng tập cho trẻ nhỏ đừng sử dụng nhiều nước chấm trong bữa ăn, hạn chế để muối tiêu, muối ớt... trên bàn ăn.
- Nên nếm trước hoặc nhờ người thân nếm thử khi nấu ăn để ngừa việc vị giác của mình sai lệch. Đôi khi vị giác bị đánh lừa vì tình trạng sức khỏe trong ngày.
- Hạn chế các món ăn rán/xào cần dùng kèm với nước chấm. Nên sử dụng nước mắm pha loãng (cùng tỏi, ớt...) trong bữa ăn hàng ngày thay vì nước chấm mặn nguyên chất.

Tự nguyện đầu hàng bệnh tật

Kháng sinh là một nhóm thuốc được sử dụng trước hết để chữa những bệnh do vi khuẩn gây ra. Thuốc có tác dụng diệt trực tiếp vi khuẩn hoặc làm chậm lại sự phát triển của vi khuẩn để tạo điều kiện cho hệ miễn dịch của cơ thể người giải quyết tình trạng nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh đang đẩy nhiều bệnh nhân nhiễm khuẩn đến tình trạng vô phương cứu chữa vì không đáp ứng kháng sinh đặc hiệu.

Kháng sinh được phân làm nhiều nhóm như nhóm penicillin, cephalosporin, tetracyclin, quinolon. Mỗi nhóm có một số kháng sinh khác nhau. Những kháng sinh thường được sử dụng hiện nay: penicillin, amoxycillin, ampicillin, cephalosporin, erythromicin, tetracylin, doxycyclin, ciprofloxacin, chloramphenicol.

Dị ứng do kháng sinh

Kháng sinh thường được sử dụng như thế nào?

Phần lớn các nhiễm khuẩn thông thường trong sinh hoạt được chữa bằng uống thuốc kháng sinh. Một số thuốc kháng sinh dùng cho mắt, tai được sử dụng bằng dung dịch, nhỏ giọt. Đối với những nhiễm khuẩn nặng phải sử dụng kháng sinh qua đường tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc có khi qua đường truyền dịch nếu cần. Muốn có tác dụng tốt, thầy thuốc phải làm kháng sinh đồ để xác định loại vi khuẩn gây bệnh và chọn kháng sinh thích hợp để có tác dụng tốt; trường hợp xét nghiệm như vậy có thể dùng kháng sinh phổ hẹp (narrow spectrum). Thông thường có thể sử dụng kháng sinh phổ rộng.
  • Chấm dứt viêm gan C với sofosbuvir 400 mg  cho bạn hiểu quả tới 90%

Dùng kháng sinh phải dùng đủ liều, đủ thời gian có tác dụng và theo dõi tác dụng của kháng sinh đối với nhiễm khuẩn, như vậy mới có kết quả chắc chắn, tác dụng phụ của kháng sinh thông thường cũng được giảm nhẹ. Một số tác dụng phụ hay gặp là tiêu chảy vì kháng sinh có thể làm thay đổi cân bằng giữa vi khuẩn bình thường và các loại men, nấm (như Candida Albicans).

Dị ứng penicillin có thể gây mẩn đỏ, trường hợp phản ứng phản vệ (sốc phản vệ) có thể đe dọa tính mạng người bệnh cho nên phải hết sức thận trọng, biết được phản ứng dị ứng do thuốc mà tránh dùng loại thuốc đó.

Lạm dụng kháng sinh có hại gì?

Dùng kháng sinh không đúng rất có hại:

Gây lãng phí: Các bệnh do virut không chữa được bằng kháng sinh mà vẫn dùng kháng sinh.

Gây khó khăn cho chẩn đoán: bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp mà dùng kháng sinh sẽ làm cho lu mờ các triệu chứng gây khó chẩn đoán.

Có khi có tác dụng chữa nhưng lại dễ gây ra phản ứng dị ứng, mẫn cảm thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Sử dụng nhiều kháng sinh và liều cao có khả năng gây suy tủy, nhất là trường hợp sử dụng chloramphenicol nhiều.

Một số kháng sinh như streptomycine, kanamycine dùng liều cao có thể gây điếc và suy thận.

Lạm dụng kháng sinh làm cho vi khuẩn nhờn thuốc, kháng thuốc ngày càng nhiều, từ đó việc chữa trị bệnh càng khó khăn. Ngày nay các tụ cầu trùng kháng thuốc cephalosporin càng nhiều. Một số vi khuẩn khác cũng kháng thuốc do đó tác dụng chữa trị của kháng sinh ngày càng hạn chế.

Các lý do dẫn đến lạm dụng kháng sinh

Do bệnh nhân: Nhiều người tưởng rằng kháng sinh chữa được bách bệnh, nên hễ bị bệnh là dùng kháng sinh, vì ở ta việc mua bán kháng sinh còn dễ dàng. Khuynh hướng tự mua thuốc, tự chữa bệnh ngày càng phổ biến - đó là lý do dễ lạm dụng kháng sinh.
  • Thuốc xeloda là loại thuốc gì?

Do thầy thuốc: Trong thực tế hằng ngày, việc sử dụng kháng sinh cũng rộng rãi. Ví dụ, khi chưa xác định được loại vi khuẩn nào và nên dùng loại kháng sinh nào là thích hợp, nhưng theo yêu cầu của bệnh nhân, một số thầy thuốc cũng dễ chỉ định sử dụng kháng sinh. Biết là chưa thật xác đáng, nhưng một số thầy thuốc vẫn kê đơn kháng sinh. Đó cũng là một cách lạm dụng kháng sinh.

Việc sử dụng thuốc, việc bán thuốc ở nước ta cũng chưa thật chặt chẽ theo quy định nên vẫn xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc trong điều trị. Về vấn đề lạm dụng kháng sinh, từ năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới đã có “Kế hoạch toàn cầu để kiểm soát sự đề kháng kháng sinh” và cấm lạm dụng kháng sinh. Ở nước ta, Bộ Y tế cũng đã có những quy định cụ thể về sử dụng kháng sinh và cấm lạm dụng kháng sinh.

Để hạn chế lạm dụng kháng sinh, trước hết các thầy thuốc phải có trách nhiệm và nêu cao vai trò của người thầy thuốc để hạn chế việc lạm dụng kháng sinh mới mong có tác dụng.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016

Sử dụng vàng để chữa ung thư khỏi hoàn toàn sau phẫu thuật

Các nhà khoa học Mỹ cho biết, họ mới tìm ra cách sử dụng vàng để chữa ung thư khỏi hoàn toàn sau phẫu thuật.

Thông tin vàng có thể chữa ung thư được các nhà khoa học tại đại học Rice Houston, Texas, Mỹ công bố. Đây chính là kết quả nghiên cứu mới về một dạng công nghệ nano trong quá trình chữa trị ung thư.

Các nhà khoa học cho biết, họ đã tìm ra cách sử dụng vàng để phát hiện và tiêu diệt tế bào ung thư sót lại sau phẫu thuật cắt bỏ khối u. Đáng nói hơn cả, là tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư nhờ cách này có thể hiệu quả tới 100%.

Theo các nhà khoa học, thông thường người bệnh ung thư sau khi được tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối u, thì những tế bào ung thư vẫn còn. Những tế bào ung thư đó có thể tiếp tục sinh sôi hình thành những khối ung thư khác trong cơ thể. Và để hạn chế điều này người bệnh sẽ phải tiến hành hóa trị, xạ trị để tiêu diệt chúng.


Phương pháp mới sử dụng vàng để tiêu diệt tế bào ung thư sau khi phẫu thuật ở trên có thể đạt hiệu quả cao hơn hẳn.

Những hạt nano vàng có xu hướng thấm qua các lỗ mạch và tập trung xung quanh khối u khi chúng được tiêm vào mạch máu cơ thể người bệnh. Khi các tế bào ung thư phát triển chúng sẽ bao phủ các hạt nano vàng này.

Sau khi lọt vào bên trong tế bào ung thư, các hạt nano này sẽ được nung nóng bằng tia laser hồng ngoại hoặc sóng điện từ và đốt cháy các tế bào ung thư, tiêu diệt chúng.
  • Loại thuốc  xeloda 500mg tablets patient informationsofosbuvir

Hiện tại phương pháp này vẫn đang được thử nghiệm trên chuột. Kết quả của thử nghiệm này rất khả quan. Những con chuột sau khi phẫu thật và điều trị bằng những hạt nano vàng, trong cơ thể hoàn toàn không còn bất kỳ tế bào ung thư nào.

Hay nói cách khác hiệu quả điều trị ung thư bằng vàng đạt đến 100% trên chuột và có thể thành công cao trên người.

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

Các bà mẹ nên đề phòng về dịch bệnh teo não ở trẻ

 Dịch bệnh do virut Zika gây bệnh đầu nhỏ đang tăng trên thế giới. Việt Nam chưa ghi nhận ca nhiễm virut Zika nào.

Dịch bệnh do virut Zika gây bệnh đầu nhỏ đang tăng trên thế giới. Việt Nam chưa ghi nhận ca nhiễm virut Zika nào. Tuy nhiên, người dân cần chủ động phòng chống dịch vì loại virut này đã xuất hiện ở Trung Quốc.

Mới đây, theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh do virut Zika đang gia tăng phát triển ở một số nước châu Mỹ la tinh và châu Phi. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc-xin phòng ngừa.
Hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh là một trong những biến chứng hay gặp nhất khi thai phụ nhiễm virut Zika.
  • Loại thuốc  xeloda 500mg tablets patient informationsofosbuvir

Năm 2015, Tổ chức Y tế Thế giới tiếp tục ghi nhận các trường hợp mắc bệnh do virut Zika tại một số quốc gia khu vực châu Mỹ, châu Phi gồm một số nước như Guatemala, Elsalvador, Venezuela, Senegal, Honduras, Panama, Brazil, trong đó, quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Brazil - cho đến nay đã có hơn 1 triệu người bị nhiễm. Số trường hợp nhiễm bệnh đang gia tăng bất thường ở nước này. Chỉ trong 1 tuần trở lại đây, số ca nhiễm virut Zika ở Brazil đã tăng thêm gần 900 trường hợp, nâng tổng số trường hợp nhiễm virut gây chứng bệnh teo não lên 3.900 trường hợp chỉ trong vòng 3 tháng qua. Trong đó, 90% số trường hợp nhiễm tập trung ở vùng Đông Bắc nghèo khó của nước này. Ở châu Á, năm 2013, Thái Lan cũng đã ghi nhận một số trường hợp mắc bệnh do virut  Zika.  Mới đây, Trung Quốc đã công bố trường hợp đầu tiên nhiễm vi rút Zika. Tại Việt Nam hiện nay chưa phát hiện trường hợp nào nhiễm virut Zika. Tuy nhiên, nước ta đang lưu hành bệnh sốt xuất huyết cùng với sự lưu hành của loại muỗi Aedes aegypti, đây là muỗi truyền virut Zika, đồng thời hiện nay virut Zika đã ghi nhận tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á, nơi có sự giao lưu du lịch, thương mại, lao động rất lớn, vì vậy, nguy cơ virut Zika có thể xâm nhập và lan truyền tại nước ta.

Đặc điểm của virut Zika
Đây là loại virut thuộc họ flavivirus - rất gần với các virut gây nên bệnh sốt xuất huyết (virut Dengue). Virut này cũng lây truyền bởi muỗi, chủ yếu là loại Aedes aegypti, loại muỗi này cũng là muỗi lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue mà nước ta đã và đang gặp phải dịch sốt xuất huyết.
Phun thuốc khử khuẩn môi trường phòng chống dịch bệnh (ảnh lớn). Ảnh: Trần Minh

Khi nhiễm virut Zika trong thời kỳ mang thai có thể gây khuyết tật teo não, đầu nhỏ bẩm sinh và kèm theo đó là chậm phát triển trí tuệ, bất thường thần kinh, rối loạn thính giác và thị giác. Tuy nhiên, WHO cũng cho biết chưa có bằng chứng về sự lây truyền Zika trong thời kỳ mang thai hay từ mẹ sang con lúc sinh. Vì vậy, sự nguy hiểm của virut Zika được mệnh danh với cái tên virut “thích ăn não thai nhi”. Bởi vì khi trẻ mắc phải hội chứng này, não bộ sẽ không phát triển bình thường khi còn ở trong bụng mẹ. Kết quả, đứa trẻ được sinh ra với một cái đầu nhỏ bất thường.
  • Phác đồ điều trị viêm gan C với loại thuốc sofosbuvir nhanh chóng và hiệu quả 

Khả năng gây bệnh của virut Zika như thế nào?
Virut có thời gian ủ bệnh từ 3-12 ngày. Thực chất, virut này không được xếp vào dạng nguy hiểm với người trưởng thành, do đó, người trưởng thành khi mắc bệnh sẽ có các triệu chứng tương tự như khi mắc sốt xuất huyết Dengue như sốt, xuất huyết dưới mọi hình thức (dưới da, nội tạng), đau mỏi cơ, khớp, đau mắt… nhưng với mức độ nhẹ hơn. Trong khi đó, với phụ nữ đang mang thai là bệnh cực kỳ nguy hiểm, bởi vì virut Zika có thể gây dị tật cho thai nhi với chứng teo não cho nên khi sinh ra, trẻ có đầu nhỏ khác thường.

Để chẩn đoán đúng, cần tiến hành 2 phương pháp: đó là chẩn đoán huyết thanh học (tìm kháng thể trong máu người bệnh hoặc nghi mắc bệnh) và chẩn đoán sinh học phân tử, trong đó chẩn đoán bằng kỹ thuật sinh học phân tử là chính xác nhất.

Điều trị và phòng bệnh
Cho đến nay, chưa có phương pháp nào đặc hiệu để điều trị bệnh teo não do virut Zika gây ra, chỉ có thể tác động để kiểm soát khuyết tật thần kinh hoặc vấn đề ngôn ngữ.  Trong khi chưa có vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu, người dân cần nâng cao kiến thức để phòng ngừa. Nếu chưa thấy cần thiết, không nên đi đến các nước đang có dịch bệnh do virut Zika gây ra, nhất là phụ nữ mang thai.
Cần đẩy mạnh tuyên truyền cách phòng chống bệnh do virut Zika.    Ảnh: TM
Cần tuyên truyền cho mọi người dân tích cực diệt muỗi với mọi hình thức, từ dân gian đến dùng hóa chất phun diệt muỗi, xua muỗi (hương xua, diệt muỗi), phải nằm màn ngay cả lúc ngủ ban ngày (vì muỗi Aedes đốt người cả ban ngày và ban đêm), nên mặc quần áo dài, chân đi tất nhằm tránh muỗi đốt. Đồng thời, cần diệt bọ gậy (loăng quăng) với các biện pháp như khơi thông cống rãnh, ao tù, cần có nắp đậy các dụng cụ đựng nước sinh hoạt.